Quản lý màu nước trong ao nuôi tôm thẻ thâm canh mùa nắng nóng

Trong nuôi tôm thẻ thâm canh mật độ cao, màu nước không chỉ là “màu” theo cảm quan, mà là một chỉ báo tổng hợp phản ánh sức khỏe ao tôm bao gồm hệ vi sinh, hệ tảo, hữu cơ tan và không tan lơ lửng, trạng thái dinh dưỡng và khả năng tự làm sạch của ao, sự ổn định sinh học của hệ sinh thái.

Nói cách khác, quản lý màu nước chính là quản lý cân bằng sinh thái trong ao.

Với ao tôm thâm canh, lượng thức ăn hàng ngày lớn, tải lượng hữu cơ cao, tỷ lệ thay nước hạn chế và biến động môi trường xảy ra nhanh, màu nước trở thành một trong những “đèn tín hiệu” quan trọng để dự báo rủi ro trước khi tôm biểu hiện bệnh lý.

Đặc biệt trong mùa nắng nóng, khi hệ tảo rất khó kiểm soát, quản lý được hệ tảo bạn sẽ quản lý được màu nước và hệ sinh thái trong ao.

Bấm chọn vào từng nội dung để xem chi tiết


1. Màu nước là gì và vì sao nó quan trọng?

Màu nước trong ao nuôi tôm được tạo bởi sự tổng hợp của nhiều thành phần, có tỷ lệ thay đổi theo mô hình nuôi, giai đoạn nuôi, mùa vụ, độ mặn, thời tiết… các thành phần chính gồm:

  • Tảo phù du: tảo lục, tảo khuê, tảo lam, tảo mắt…
  • Vi khuẩn tự dưỡng và dị dưỡng (biofloc)
  • Chất hữu cơ hòa tan và các chất lơ lửng (Khoáng chất, đất sét mịn, bùn, phân tôm, xác tảo…)
  • Màu nhân tạo hoặc các hợp chất chứa thành phần tạo màu (VD: mật rỉ đường)

Thách thức lớn nhất trong quản lý màu nước mùa nắng nóng là sự ổn định. Màu nước không ổn định là biểu hiện của hệ sinh thái ao không cân bằng, khi thông số chất lượng nước biến động, tôm dễ phát sinh stress và biểu hiện bệnh lý.

Vì sao màu nước lại quan trọng?

Màu nước ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động sống của tôm trong ao bao gồm:

  • Ô-xy hòa tan: Tảo tạo ô-xy ban ngày, giúp tôm phát triển, giúp các dòng vi sinh hiếu khí làm việc hiệu quả, giảm khí độc và ức chế vi khuẩn kỵ khí có hại phát triển. Tuy nhiên, tảo và vi sinh cũng tiêu thụ ô-xy vào ban đêm, nên khi màu nước đậm nhu cầu ô-xy ban đêm sẽ tăng cao.
Hình 1- Minh họa biến thiên nhiệt độ, oxy hòa tan trong ngày
  • pH và biên độ dao động ngày đêm của pH: Ao nhiều tảo pH thường tăng mạnh buổi chiều và giảm sâu lúc rạng sáng. Dao động pH lớn làm tôm stress, giảm ăn, dễ mềm vỏ, khó lột xác hoặc cưỡng ép lột xác. pH cao tăng độc tính của NH3, trong khi pH thấp tăng độc tính của khí độc H2S. Vì vậy, màu nước ao thiếu ổn định thường đi kèm với sức khỏe tôm bị ảnh hưởng bởi khí độc trong ao.
  • Sức khỏe đường ruột và miễn dịch của tôm: Hệ tảo và vi sinh trong nước ảnh hưởng trực tiếp đến hệ vi sinh và sức khỏe đường ruột tôm. Bên cạnh vi sinh, có ảnh hưởng ức chế vi khuẩn có hại bùng phát trong ao, một vài dòng tảo cũng được biết đến với chức năng tương tự, kiềm chế vi khuẩn vibrio phát triển. Vì vậy, màu nước ổn định sẽ hỗ trợ cho tôm chống chọi lại vi khuẩn gây hại. Ngược lại, hệ tảo, hệ vi sinh thiếu tính ổn định sẽ tạo điều kiện cho vi khuẩn có hại bùng phát, gây bệnh cho tôm, đó là lý do chính khiến bệnh đường ruột, phân trắng dễ xảy ra vào mùa nắng nóng, thời điểm khó kiểm soát hệ tảo, vi sinh trong ao.
  • Khí độc phát sinh trong ao: Màu nước- hệ sinh thái – ổn định giảm thiểu khí độc phát sinh. Bên cạnh sản sinh ô-xy hỗ trợ các chu trình sinh hóa, gián tiếp giảm khí độc, tảo cũng đóng vai trò xử lý chất thải, đóng gói chất thải hữu cơ, vô cơ thành sinh khối, trực tiếp giảm ô nhiễm nước ao. Tuy nhiên, nếu hệ tảo mất ổn định, hệ vi sinh kém bền vững, lúc này tảo trở thành gánh nặng cho hệ thống, trực tiếp phát sinh thành phần ô nhiễm cho ao như xác tảo, tảo tàn, chất thải hòa tan, lơ lửng hữu cơ…
  • Nhiệt độ nước: Một ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng của màu nước, thường xuyên bị bỏ qua hoặc không được chú ý, đó là màu nước ảnh hưởng rất lớn đến nhiệt độ nước ao nuôi. Ảnh hưởng này thể hiện rất rõ trong mùa nắng nóng. Màu nước ao nuôi quyết định đến khả năng hấp thụ hay phản xạ nhiệt (ánh sáng) từ nguồn ánh nắng mặt trời. Mùa nắng nóng, nắng gắt và thời gian chiếu sáng dài, những ao hấp thụ nhiệt nhiều, nhiệt độ nước ao tăng cao (>330C) làm cho đặc tính sinh lý hóa, hệ sinh thái của ao bị biến động lớn, hàm lượng ô-xy bão hòa trong nước giảm, khí độc tăng nhanh do vi sinh xử lý khí độc (nitrat hóa: nitrosomonas, nitrobacter) giảm hoạt động, tôm stress và vi khuẩn gây hại tăng nhanh… Nhiệt độ nước cao cũng là điều kiện để các tảo có hại phát triển và bùng phát, thực tế cho thấy, ở các ao có màu nước “nóng” như đỏ nâu, vàng đậm tần suất xuất hiện và bùng phát những loài tảo có hại (tảo giáp, tảo mắt…) nhiều hơn các ao có màu nước “mát” (như xanh dương, xanh nhạt), lý do nước ao có màu nâu, đỏ, vàng hấp thụ nhiệt nhiều hơn nên nhiệt độ sẽ cao hơn.

2. Các kiểu màu nước thường gặp và ý nghĩa sinh học

Dù là sự tổng hợp của các yếu tố sinh lý hóa trong ao, nhưng tựu chung lại, màu nước cũng có một số đặc trưng riêng- các kiểu riêng- phụ thuộc vào thành phần nào đang chiếm ưu thế trong hệ sinh thái ao tôm. Ở ao thâm canh lót bạt, thông thường chỉ có 2 yếu tố thay nhau chiếm ưu thế và tạo nên màu đặc trưng cho nước ao, đó là hệ tảo và hệ vi sinh dị dưỡng (bioflocs), bên cạnh một yếu tố kỹ thuật – màu nhân tạo. Ở mô hình nuôi tôm ao đất, yếu tố lơ lửng hữu cơ, vô cơ và hệ vi sinh tự dưỡng cũng đóng vai trò lớn trong đặc trưng màu nước ao.

Với mô hình ao nuôi ít thay nước (<5%/ngày), semi-bioflocs hay bioflocs(1) có tiếp nhận ánh sáng mặt trời, để nhận biết yếu tố hệ vi sinh hay hệ tảo đang chiếm ưu thế trong ao nuôi, người ta thường dùng chỉ số MCCI(8) (Microbial Community Colour Index – Chỉ số màu sắc quần thể vi sinh). Trong đó, MCCI < 1, hệ tảo chiếm ưu thế; MCCI > 1.2, hệ vi sinh chiếm ưu thế và vùng chuyển tiếp giữa hệ tảo và hệ vi sinh có MCCI ~ 1.0 – 1.2 (Hình 2). Giá trị của chỉ số này phụ thuộc chủ yếu vào lượng thức ăn cung cấp vào ao nuôi, thông thường, lượng thức ăn hàng ngày từ 10-20 kg/ 1000 m3, tảo sẽ chiếm ưu thế (MCCI <1), từ 60 kg/ 1000 m3/ngày vi sinh sẽ chiếm ưu thế vượt trội (MCCI >1.2) và lượng thức ăn từ 20 – dưới 60 kg/ 1000 m3/ ngày là sự pha trộn tảo và vi sinh trong hệ sinh thái ao nuôi (MCCI ~ 1.0 – 1.2).

Hình 2 – Minh họa chỉ số màu sắc của quần thể vi sinh vật ở ao Bioflocs (1, 8)

Với mô hình nuôi thâm canh ao bạt ngoài trời phổ biến hiện nay, mặc dù lượng thức ăn cung cấp hàng ngày rất lớn (> 60 kg/ 1000 m3), yếu tố vi sinh khó lòng chiếm ưu thế lý do ở mô hình này tỷ lệ thay nước hàng ngày lớn (từ 20 – 50%), vi sinh không đủ thời gian để tạo flocs và quyết định màu nước như ở mô hình ít thay nước, (semi-) bioflocs. Ở mô hình này, sự khác biệt và đặc trưng màu nước ao phụ thuộc nhiều vào hệ tảo hình thành và phát triển trong ao. Vào mùa nắng nóng, quản lý màu nước trong ao thâm canh lót bạt là quản lý hệ tảo. Hãy cùng điểm qua các kiểu màu nước thường gặp ở mô hình nuôi này và ý nghĩa sinh học của chúng.

2.1. Màu nâu nhạt, nâu vàng

Thường liên quan đến tảo khuê(5), chất lượng nước ao tốt, sạch sẽ, chất hữu cơ ổn định, ít ô nhiễm. Nước bóng, sáng có ít hạt lơ lửng mịn.

Hình 3 – Minh họa màu nước nâu tảo khuê

Ý nghĩa

  • Thường là màu nước khá “an toàn” trong giai đoạn đầu, ổn định.
  • Tảo khuê thường được xem là nhóm tảo có lợi hoặc ít gây hại ngay cả khi phát triển mạnh (do tảo khuê không làm pH và ô-xy ngày đêm biến động nhiều).

Lưu ý

  • Cần phân biệt nâu do tảo khuê với màu nâu đậm do màu nhân tạo hoặc các nguyên liệu có màu tương tự (Vd: mật rỉ đường).
  • Tảo khuê thường khó giữ khi nước trở nên ô nhiễm (BOD > 5 mg/l) hoặc hàm lượng chất thải hữu cơ cao (tỷ lệ N:P <15:1) (do ít nước thay), hoặc sau khi mưa (khi độ mặn giảm) hay nắng nóng kéo dài.

Khi phát triển mạnh (mùa nắng nóng), khó kiểm soát tảo giáp, tảo mắt…

2.2. Màu xanh nhạt, xanh nõn chuối đến xanh đậm

Màu nước thường đặc trưng cho tảo lục(3) (4) ưu thế, mức tảo ở ngưỡng từ thưa, vừa phải đến dày.

Hình 4 – Minh họa màu nước xanh nhạt tảo lục

Ý nghĩa

  • Ánh sáng xuyên nước ở mức hợp lý, tôm có màu sắc đẹp.
  • Có quang hợp tốt, thường hỗ trợ ô-xy ban ngày, tôm tăng trưởng tốt.
  • Thường gặp ở giai đoạn đầu đến giữa vụ nuôi, khi mức độ ô nhiễm ở mức độ trung bình.

Lưu ý

  • Tảo ưa thích mức độ ô nhiễm và hàm lượng chất thải hữu cơ trung bình (BOD 5 – 50 mg/l, tỷ lệ N:P từ 7-14:1), ổn định trong môi trường cường độ ánh sáng, nhiệt độ vừa phải, ít biến động (mùa xuân, đầu mùa hè).
  • Màu xanh nhạt, tảo lục ổn định pH dao động ngày đêm ít (0.2 – 0.3 đơn vị), nếu màu xanh chuyển sang xanh đậm, tảo lục có thể đang tiến gần ngưỡng bùng phát.
  • Khi tảo trở xanh đậm, lúc này chênh lệch ô-xy và pH giữa ngày và đêm lớn (chênh lệch pH > 0.5 đơn vị) nguy cơ tảo tàn hàng loạt (tảo sụp) rất cao, cần có hướng xử lý “giảm tảo” đúng đắn để tránh nổ ra bệnh đường ruột, phân trắng, chết đồng loạt khi lột xác.

2.3. Màu nâu đỏ, nâu đậm, thay đổi thấy rõ trong ngày

Đây là dấu hiệu mật độ tảo giáp cao (3) (4) (7) (10), tôm dễ xuất hiện bệnh đường ruột, khí độc cao và tôm nổi đầu do thiếu ô-xy vào ban đêm.

Hình 5 – Minh họa màu nước nâu đỏ tảo giáp

Ý nghĩa:

  • pH dao động mạnh (>0.5 đơn vị), tăng độc tính của NH3 vào ban ngày và H2S vào ban đêm.
  • Ô-xy biến thiên lớn giữa ngày và đêm lớn, tôm dễ stress và khí độc (NH3, NO2, H2S) dễ hình thành.
  • Tảo giáp khi là tế bào sống gây tổn thương nhung mao ruột, và khi tảo bùng phát hay chết hàng loạt cũng gây độc cho tôm do tế bào tảo chứa và tiết các độc tố thần kinh và độc tố gây hoại tử gan tụy, đường ruột tôm.

Lưu ý:

  • Tảo giáp phát triển mạnh ở môi trường ô nhiễm và hàm lượng chất thải hữu cơ cao (BOD > 50 mg/l, tỷ lệ N:P < 5:1), độ mặn cao (thường gặp >30 ppt) và khi nhiệt độ cao, cường độ ánh sáng mạnh, thời gian chiếu sáng dài (mùa hè).
  • Tảo giáp bùng phát, ngoài các yếu tố khí hậu, thường liên quan đến việc quản lý đáy ao kém hiệu quả, khí độc đáy ao bùng phát (đặc biệt H2S) làm lượng P “bị khóa” dưới đáy ao quay trở lại tầng nước ở dạng “tự do”, tạo điều kiện cho tảo giáp tiếp cận, sử dụng và bùng phát.
  • Tảo giáp có khả năng di động, hướng quang. Đó là lý do ao bùng phát tảo giáp buổi sáng nước trong, nhạt màu nhưng buổi trưa, chiều chuyển màu nâu đỏ đậm rất nhanh và ngược lại.
  • Hạn chế “cắt” tảo giáp đột ngột. “Giảm” tảo giáp phải kết hợp nhịp nhàng nhiều biện pháp từ giảm thiểu dinh dưỡng, ô nhiễm, giảm keo nhớt nước và giảm cường độ ánh sáng (che nắng), …

2.4. Màu nước xanh ngọc, xanh đậm, có váng xanh nổi ở bề mặt ao, gom cuối gió

Đây là dấu hiệu ao bùng phát tảo lam (2) (3) (4) (7) (10).

Hình 6 – Minh họa màu nước ao xanh, nổi cuối gió (tảo lam)

Ý nghĩa

  • Mức độ ô nhiễm ao cao (BOD > 50 mg/l và tỷ lệ N: P từ 7-8:1)
  • Hệ vi sinh trong ao hoạt động kém hiệu quả.
  • Tôm dễ bị bệnh đường ruột do độc tố tảo lam, nổi đầu do bít mang.

Lưu ý:

  • Tảo lam thực ra là vi khuẩn, sử dụng ánh sáng mặt trời để quang hợp giống như tảo. Có mùi hôi đặc trưng khi đứng cuối gió nơi tảo tích tụ trên góc ao.
  • Tảo lam thường phát triển khi độ mặn biến động trong điều kiện nhiệt độ cao, nắng gắt (mùa hè, sau các cơn mưa lớn làm độ mặn giảm).
  • “Cắt” và “giảm” tảo lam sẽ có cơ chế khác biệt so với các loài tảo khác, do chúng có bản chất vi khuẩn hơn là tảo.

2.5. Màu nâu đen, đen xám

Thường là dấu hiệu xấu, nước ô nhiễm nặng và đang bùng phát tảo mắt (3) (4) (7) (10).

Hình 7 – minh họa màu nước xanh đen tảo mắt

Ý nghĩa:

  • Lượng chất thải tích tụ trong ao quá cao (BOD >50 mg/l, tỷ lệ N:P <5:1 thậm chí 1:1).
  • Đáy ao dơ, yếm khí phát sinh khí độc H2S.
  • Nguy cơ thiếu ô-xy, tôm nổi đầu về đêm rất cao.
  • Nguy cơ tảo tàn, nước “sập màu” rất cao.

Lưu ý:

Một số trường hợp khi làm lại màu nước vẫn thấy tình trạng nước màu đen, tôm vẫn khỏe và ăn bình thường, nhưng đây là tình trạng cần can thiệp ngay, cần phối hợp nhiều biện pháp để xử lý nguyên nhân gốc rễ. Thay nhiều nước là biện pháp tối ưu nhất.

Màu nướcÝ nghĩaNguy cơHành động
Nâu nhạtỔn địnhThấpDuy trì ổn định
Xanh nhạtTốtTrung bìnhTheo dõi
Xanh đậmTảo bùng phátCaoGiảm ăn, tăng thay nước, vi sinh (đêm)
Nâu đỏTảo giápRất caoXử lý “giảm tảo” sớm
Xanh lamTảo lamNguy hiểmCan thiệp liền
Đen/xámÔ nhiễm, tảo mắtCực caoXử lý nhanh, mạnh
Bảng 1 – Tổng hợp các màu nước thường gặp và hành động tương ứng

3. Màu nước tốt là như thế nào trong ao lót bạt?

Không có một màu nước “chuẩn tuyệt đối” cho mọi ao, nhưng trong nuôi tôm thẻ thâm canh mật độ cao, một màu nước tốt thường có các đặc điểm “ổn định”:

  • Màu sắc ổn định ít nhất 3 – 7 ngày
  • pH ổn định, dao động cao nhất trong ngày < 0.2 đơn vị pH.
  • Độ đậm vừa phải, ổn định trong ngày, độ trong dao động tối ưu 25 – 40 cm, buổi sáng không quá trong, buổi chiều không quá dày.
  • Không biến đổi quá nhanh sau mưa, sau cho ăn hoặc sau xử lý.
  • Nước tơi, nhẹ và bóng, không bị nhầy nhớt “kẹo nước”.

Màu nước tốt là màu nước “ổn định”, không phải màu nước “đẹp mắt”.


4. Các yếu tố quyết định màu nước trong ao tôm

4.1. Dinh dưỡng vô cơ và hữu cơ

Nguồn dinh dưỡng chính cho tảo là:

  • Thức ăn thất thoát, dư thừa.
  • Phân tôm.
  • Chất hữu cơ hòa tan trong ao (thành phần xác tảo, vi sinh chết, hợp chất trung gian của quá trình khoáng hóa của hệ vi sinh…)

Nếu ô nhiễm N và P cao, tảo sẽ phát triển mạnh và nghiêng dần về tảo có hại chiếm ưu thế như tảo giáp, tảo lam và tảo mắt(3) (4).Đó là lý do, thường thấy xu hướng chuyển biến của tảo trong quá trình nuôi như sau giai đoạn nuôi đầu, khi nước sạch, chất thải hữu cơ thấp, tảo khuê chiếm ưu thế, giai đoạn giữa khi chất thải hữu cơ tích tụ, tảo lục có lợi thế sẽ chiếm ưu thế và phát triển lấn át tảo khuê, rồi đến giai đoạn cuối vụ nuôi, tùy vào độ mặn và thời tiết vùng nuôi, tảo giáp, tảo lam, mắt có cơ hội bùng phát và lấn át các tảo khác khi chất thải hữu cơ cao.

Chất hữu cơ trong ao đến từ 3 nguồn chính: thức ăn (thất thoát và dư thừa), phân tôm và xác tảo tàn. Nhưng vi sinh cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dinh dưỡng cho tảo. Nếu vi sinh được bổ sung đầy đủ và hoạt động hiệu quả, quá trình khoáng hóa chất thải sẽ diễn ra “mượt mà”, chất thải hữu cơ trong nước sẽ trở thành sinh khối vi sinh hoặc chuyển thành hợp chất vô cơ thường là vô hại (CO2, H2O, S2,NO32-, N2, PO43-, khoáng…), các chất vô cơ này được tảo khuê, tảo lục sử dụng từ đó tảo có lợi chiếm ưu thế trong ao. Ngược lại, nếu hệ vi sinh không đầy đủ và/hoặc hoạt động kém hiệu quả, quá trình khoáng hóa chất thải hữu cơ diễn ra không triệt để, từ đó tích tụ khí độc gây hại (NH3, NO2, H2S…) và các chất hữu cơ hòa tan trung gian (polyphenol, amin, axit hữu cơ, quinol…) gây keo nước, nhớt nước và là thức ăn ưa thích cho tảo có hại (tảo lam, tảo giáp, tảo mắt) sử dụng và bùng phát. Do đó, việc tăng cường sử dụng vi sinh xử lý chất thải vào mùa nắng nóng cũng nên là ưu tiên bên cạnh việc quản lý chất thải thủ công (cho ăn chuẩn, tăng tần suất xi-phông, xả đáy).

Để tránh thất thoát và dư thừa thức ăn gây ô nhiễm vào mùa nắng nóng, cần chú ý đến nhiệt độ nước khi cho tôm ăn, không cho tôm ăn khi nhiệt độ nước > 320C và chia thành nhiều cử thức ăn trong ngày.

4.2. Ánh sáng

Ánh sáng mặt trời là năng lượng đầu vào chính để quần thể tảo phát triển trong ao. Do mỗi loài tảo có diệp lục tố (chlorophyll) và thành phần sắc tố cảm quang (carotenoids, phycocyanin và xanthophyll…) khác nhau nên tùy vào bước sóng ánh sáng (nước ao nhận được từ mặt trời) phù hợp cho loài tảo nào thì tảo đó sẽ phát triển và chiếm ưu thế trong ao (Hình 8 và Bảng 2).

Hình 8 – Khả năng hấp phụ ánh sáng với bước sóng khác nhau của các diệp lục tố(6)
Loài tảoSắc tố
Tảo lụcChlorophyll a, b, beta-carotenoids
Tảo khuêChlorophyll a, c; beta-carotenoids
Tảo lamPhycocyanin, Phycoerythrin
Tảo mắtChlorophyll a, b, Carotenoids
Tảo giápChlorophyl a, Carotenoids, Phycoerythrin, Phycobilin, Xanthophyll
Bảng 2 – Thành phần diệp lục tố và sắc tố cảm quang chính của các loài tảo(6) (tổng hợp từ nguồn: Wikipedia.org)

Tuy nhiên, màu nước của ao sẽ quyết định bước sóng ánh sáng nào từ mặt trời được hấp thụ vào hay phản xạ ra khỏi mặt nước (Hình 9). Do đó, một cách đơn giản có thể nói màu nước ao lại ảnh hưởng trở lại đến thành phần tảo phát triển, chiếm ưu thế trong ao. Vì vậy, kiểm soát được ánh sáng (cường độ, thời gian chiếu sáng) và kiểm soát màu nước ao (bước sóng ánh sáng ao nhận được) sẽ kiểm soát được tảo phát triển trong ao.

Hình 9 – Minh họa dải màu ánh sáng nhìn thấy và nguyên tắc phản xạ ánh sáng
  • Kiểm soát cường độ và thời gian chiếu sáng, thường áp dụng với mô hình ao nhỏ, trong nhà, kiểm soát một phần hay hoàn toàn ánh sáng mặt trời bằng mái kiên cố hoặc các lớp lưới lan (nhà màng, mái lưới…), tuy nhiên với mô hình ao lớn ngoài trời hoặc khu vực nhiều gió sẽ gặp khó khăn do chi phí đầu tư và bảo quản lớn.
  • Do đó, vào mùa hè, nắng gắt với thời gian chiếu sáng dài, thì giải pháp kiểm soát màu nước ao bằng màu nhân tạo đang được áp dụng nhiều những năm gần đây, có thể là giải pháp hữu hiệu để quản lý tảo trong ao tôm thâm canh lót bạt. Có nhiều gam màu nhân tạo được người nuôi áp dụng từ vàng nâu, xanh nõn chuối đến xanh dương. Như nguyên tắc phản xạ ánh sáng (Hình 9), nước ao sẽ phản xạ những ánh sáng đơn sắc có cùng bước sóng ánh sáng của màu nước và hấp thụ những ánh sáng đơn sắc khác màu. Ví dụ: trong dải màu nhìn thấy với bước sóng tăng dần từ tím, xanh dương, xanh lá cây, vàng, cam, đỏ thì nếu nước ao màu đỏ sẽ hấp thụ hầu hết các ánh sáng đơn sắc từ tím, xanh dương, xanh lá cây, vàng và cam, chỉ phản xạ ánh sáng đỏ từ ánh sáng trắng của mặt trời. Ngược lại, với nước ao màu xanh dương, ao sẽ hấp thụ hầu hết các dải màu, chỉ ngăn cản màu xanh dương vào nước ao. Do đó, nước ao màu xanh dương sẽ ngăn cản ánh sáng xanh dương từ mặt trời, dải màu mà nếu nước hấp thụ thì tảo sẽ phát triển mạnh do các diệp lục tố hấp thu dinh dưỡng tốt nhất ở dải màu này (Hình 8), trong khi các màu nước khác sẽ hỗ trợ tảo phát triển tốt do nước hấp thụ màu xanh dương từ ánh sáng mặt trời.

4.3. Kiềm

Kiềm đóng vai trò là hệ đệm, giúp giữ pH và hàm lượng CO2 trong nước ổn định. Kiềm thấp một mặt làm hệ vi sinh hoạt động kém hiệu quả, một mặt làm hệ tảo kém bền vững, biến động liên tục, pH dao động lớn. Ngược lại, kiềm cao sẽ kéo theo nguy cơ CO2(9) tích tụ trong nước tăng cao, từ đó làm giảm ô-xy trong nước cũng như tảo dễ bùng phát.

4.4. Chênh lệch nhiệt độ ngày đêm

Chênh lệch nhiệt độ ngày đêm không trực tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của tảo nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến việc kiểm soát hệ tảo và màu nước trong ao nuôi, đặc biệt cần lưu ý đối với khu vực miền Bắc và miền Trung, nơi có nhiệt độ chênh lệch ngày đêm lớn (có lúc > 100C) hoặc những thời điểm giao mùa, khí hậu đang lạnh chuyển sang nắng nóng đột ngột.

Khi ở nhiệt độ thấp (<230C), vi sinh hoạt động kém hiệu quả, độ nhớt của nước cao kéo theo hàm lượng dinh dưỡng hòa tan, khí CO2, chất lơ lửng hữu cơ… trong nước tích lũy ở mức cao. Trong điều kiện thời tiết lạnh, cường độ ánh sáng thấp tảo không thể phát triển dù có dư thừa nguồn dinh dưỡng. Nhưng khi chuyển sang nắng đột ngột, cường độ ánh sáng tăng mạnh và hàm lượng dinh dưỡng trong nước cao, tảo sẽ bùng phát nhanh chóng.

Do đó, ngoài tiêu chí lựa chọn màu nhân tạo cho ao để phát triển hệ tảo có chọn lọc, yếu tố hấp thu nhiệt của màu nước cũng cần tính đến để làm hạn chế tăng nhiệt độ nước ao mùa nắng nóng, giảm thiểu chênh lệch nhiệt độ giữa ban ngày và ban đêm. Bên cạnh giảm stress cho tôm, giảm chênh lệch nhiệt độ cũng góp phần làm ổn định hệ tảo, hệ vi sinh trong ao.


5. Các dấu hiệu của tảo tàn trong ao nuôi

Các dấu hiệu về môi trường sẽ cho biết hệ tảo hiện hữu đang suy tàn trong ao, dưới đây là một vài dấu hiệu được sắp xếp theo tiến trình tảo tàn:

  • pH không chênh lệch sáng chiều hoặc độ chênh lệch pH sáng chiều giảm hơn so với những ngày trước dù nước màu nước vẫn đậm, thường thấy pH sáng không đổi, pH chiều tăng dần.
  • Ô-xy thấp (< 4 ppm) vào ban ngày (giữa trưa) dù nước màu nước vẫn đậm, ánh nắng bình thường, nhiệt độ nước không cao bất thường.
  • Màu nước sậm hơn, keo nhớt; bọt khó tan sau cánh quạt.
  • Tảo tàn tụ lại phía cuối gió, bọt và váng màu xanh, vàng… tảo non chết sẽ có bọt xanh sáng, tảo già chết sẽ có màu đậm, đen.
  • NH3, NO2 tăng cao, kèm theo tôm giảm ăn vào cử trưa, tối
  • Nước trở nên trong hơn nhưng nhiều lợn cợn lơ lửng
  • Tôm dễ bị bám mang, hiện tượng vàng chân, vàng miệng

6. Chiến lược quản lý màu nước: không phải “diệt tảo”, mà là hạn chế và ổn định tảo

Ở mô hình ao nuôi thâm canh hiện tại, những vai trò (có lợi) trước kia của tảo đã giảm đáng kể, trong khi tác hại khi không kiểm soát được tảo lại gây hậu quả to lớn. Đối mặt với điều kiện bất đối xứng này, cần phải có chiến lược mới để kiểm soát màu nước, hạn chế tảo phát triển, bùng phát trong hệ thống.

Chọn vào từng nội dung để xem chi tiết

Khi nào cần duy trì màu nước?
  • Nước trong, sạch.
  • Màu ổn định, pH dao động nhẹ (<0.2 đơn vị)
  • Ô-xy sáng chiều tốt, tôm ăn mạnh, tăng mồi đều đặn.
Khi nào cần hãm tảo?
  • Màu nước trở nên đậm (độ trong <25).
  • Chênh lệch pH >0.3 đơn vị.
  • Có dấu hiệu tảo nổi váng, nổi bọt, nước chuyển đột ngột, nước nhiều màu, ao mất bọt.
  • Tôm ăn giảm “sung” vào buổi sáng.
Khi nào cần xử lý nhanh, mạnh?
  • Dấu hiệu tảo sụp.
  • Đáy ao dơ, khí độc tăng cao.
  • Tôm stress thấy rõ: ăn giảm sáng sớm và/hoặc trưa nắng.

Xử lý mạnh phải đi kèm:

  • Tăng ô-xy, vi sinh
  • Chống sốc.
  • Ổn định kiềm.
  • Xử lý keo nước, nhớt đáy và lơ lửng hữu cơ.

7. Các công cụ quản lý màu nước hiệu quả trong mùa nắng nóng

Quản lý thức ăn

  • Cho ăn nhiều cử trong ngày, thời gian giữa mỗi cử cho ăn ngắn lại.
  • Chuyển thời gian cho ăn từ ban ngày sang ban đêm, khi nhiệt độ nước > 320C và ô-xy > 4 ppm.
  • Bổ sung vitamin, chống sốc.

Xi-phông đáy định kỳ

Rất quan trọng với ao lót bạt để giảm tích tụ chất thải hữu cơ:

  • Định kỳ hút chất thải ở hố xi-phông, tốt nhất là sau mỗi cữ ăn hoặc 3-4 giờ/lần.
  • Có biện pháp kết hợp chất lắng tụ, “tạo hạt keo” để loại bỏ lơ lửng hữu cơ ra khỏi tầng nước, tăng hiệu quả của công tác xi-phông.
  • Thường xuyên kết hợp kiểm tra đáy ao, tránh tích tụ vùng yếm khí phát sính khí độc H2S, NO2

Duy trì kiềm và khoáng vi lượng

  • Kiềm ổn định giúp màu nước ổn định hơn.
  • Bổ sung khoáng vi lượng để hệ tảo ổn định, cũng như giúp tôm lột xác tự nhiên.

Vi sinh đúng

Sử dụng vi sinh hiệu quả nhất khi đúng dòng, đúng bộ, đúng liều và đúng thời điểm:

  • Mùa nắng khuyến cáo đánh vi sinh ban đêm/ tối muộn để góp phần cạnh tranh ức chế quá trình tảo phân chia và nhân lên. Ưu tiên lựa chọn các dòng vi sinh có khả năng tăng sinh nhanh (thời gian thế hệ ngắn) để cạnh tranh dinh dưỡng và ức chế tảo phát triển.
  • Nên kết hợp cùng các dòng enzyme giúp vi sinh hoạt động hiệu quả, tác dụng nhanh. Kết hợp với tác nhân làm sạch nước để giảm keo nhớt, giảm thành phần dinh dưỡng, hữu cơ hòa tan trong nước.
  • Kết hợp nhịp nhàng giữa vi sinh xử lý chất thải ô nhiễm trong nước và vi sinh xử lý đáy, tránh khí độc H2S đáy phát sinh tạo điều kiện cho tảo có hại bùng phát.

Kiểm soát sự hấp thu ánh sáng bằng màu nhân tạo

Sử dụng màu nhân tạo như “mái che xanh” để giảm cường độ ánh sáng chiếu vào ao.

Điều chỉnh hệ tảo (màu nước) theo màu nhân tạo, giảm chênh lệch ô-xy, pH ngày và đêm, giảm stress cho tôm.

Làm cho ao nuôi giảm hấp thụ nhiệt từ mặt trời, hạn chế tăng nhiệt độ nước buổi trưa, chiều và giảm biến thiên nhiệt độ trong ngày.


8. Sai lầm phổ biến trong quản lý màu nước mùa nắng nóng

  • Chỉ đánh giá chủ quan màu “cảm tính” mà không theo dõi chỉ tiêu nước, đặc biệt là ô-xy và pH (sáng & chiều), nên khi phát hiện tảo tàn hàng loạt không kịp trở tay.
  • Lạm dụng hóa chất “cắt tảo”, trong khi đa số trường hợp chỉ cần “giảm tảo”.
  • Để thức ăn dư kéo dài, cho ăn theo “sức tôm” mùa nắng nóng dẫn tới dơ nước, tảo bùng phát, bệnh đường ruột phát sinh…
  • Không tăng cường xi-phông đáy, quản lý đáy không hiệu quả khí độc dễ bùng phát.
  • Cắt giảm bổ sung khoáng đa vi lượng, ổn định độ kiềm của nước.
  • Dùng vi sinh như thuốc “chữa cháy” thay vì công cụ ổn định nền tảo.
  • Ghi nhận lịch sử màu nước, chỉ tiêu bằng “cảm giác” chủ quan mà không có nhật ký ao nuôi.
  • Không sử dụng “mái che xanh” để hỗ trợ kiểm soát cường độ ánh sáng chiếu vào ao nuôi.

Trong ao nuôi tôm thẻ thâm canh mật độ cao, màu nước không phải là một tiêu chí phụ mà là chỉ báo trung tâm của sự ổn định sinh học. Quản lý màu nước mùa nắng nóng cơ bản là quản lý sự phát triển của hệ tảo trong ao. Trên thực tế cần kết hợp nhịp nhàng nhiều yếu tố từ quản lý thức ăn, đáy ao, vi sinh, khoáng kiềm… và năng lượng ánh sáng nước ao hấp thụ vào. Tất cả không nhằm mục đích “diệt tảo” mà tạo hệ tảo chọn lọc, “ổn định” tối đa, giảm các tác hại khi tảo bùng phát dẫn đến mất cân bằng hệ sinh thái ao nuôi.

Nước ao nuôi có vấn đề? Hãy liên hệ với chúng tôi!

Tài liệu tham khảo

  1. Biofloc Production Systems for Aquaculture, SRAC Publication No. 4503, 2013
  2. Control of Blue-green Algae in Aquaculture Ponds. SRAC Fifteenth Annual Progress Report, December, 2002
  3. Claude E. Boyd. (2006). Phytoplankton Dynamics in Aquaculture Ponds. GLOBAL AQUACULTURE ADVOCATE November/December 2006
  4. Claude E. Boyd. (2009). Phytoplankton In Aquaculture Ponds. GLOBAL AQUACULTURE ADVOCATE January/February 2009
  5. Claude E. Boyd. (2014). Silicon, Diatoms In Aquaculture. GLOBAL AQUACULTURE ADVOCATE May/June 2014
  6. Donald Tyoker Kukwa & Maggie Chetty (2020). Microalgae: The Multifaceted Biomass of the 21st Century, Biotechnological Applications of Biomass, Intechopen
  7. Một số loài tảo phổ biến và biện pháp khắc phục tảo độc trong các ao nuôi tôm thâm canh ThS. Nguyễn Kiều Diễm – Trung Tâm Khuyến Nông – Khuyến Ngư tỉnh Cà Mau
  8. Ot´avio Augusto Lacerda Ferreira Pimentel (2023). Biofloc colors as an assessment tool for water quality in shrimp farming. Aquacultural Engineering 101
  9. Sử dụng vôi trong nuôi trồng thủy sản (PGs. Ts. Trương Quốc Phú, Khoa Thủy sản – Đại học Cần Thơ)
  10. Tác hại của tảo độc trong ao tôm -Ths. Dương Thị Hoàng Oanh, KTS, ĐH Cần Thơ