HỘI CHỨNG TRẮNG GAN TRẮNG MANG TRÊN CÁ TRA

Hội chứng tổn thương gan và mang nhạt màu đã được ghi nhận trên nhiều loài thủy sản như cá vược, cá nheo và cá tra, với đặc điểm chung là giảm sắc tố ở gan, mang kèm tình trạng thiếu máu.
Tuy nhiên, cơ chế hình thành hội chứng này ở mỗi loài có sự khác biệt đáng kể ở cá chẽm, biểu hiện tương tự thường liên quan đến khẩu phần có hàm lượng carbohydrate cao. Trong khi với cá nheo, rối loạn có thể bắt nguồn từ thiếu hụt vitamin nhóm B hoặc tổn thương do vi khuẩn gây hoại huyết như Edwardsiella ictaluri.
Riêng đối với cá tra, cho đến nay nguyên nhân gây ra hội chứng trắng gan trắng mang (TGTM) vẫn chưa được xác định rõ và được xem như một hội chứng phức hợp liên quan đến nhiều yếu tố sinh lý, môi trường và quản lý nuôi.
Trong bài viết này chúng tôi sẽ tổng hợp và chia sẻ đến người nuôi các thông tin chính về hội chứng, cũng như các định hướng giải pháp từ kinh nghiệm thực tiễn của bộ phận kỹ thuật, với mong muốn giúp người nuôi tăng hiệu quả vận hành ao nuôi, đồng thời giảm thiểu thiệt hại do hội chứng này.
1. Dấu hiệu bệnh
Thân cá nhạt màu, da/vây xanh trắng, tái và ít nhớt. Mang từ đỏ tươi đến hồng nhạt và trắng nhạt ở cá bệnh nặng và thường có nhiều cặn bẩn đen bám. Khả năng lấy oxy từ môi trường giảm nên cá bệnh thường bơi lờ đờ, tập trung gần chỗ có dòng nước chảy.
Khi cá bệnh nhẹ tim, thận, tỳ tạng thường sưng và nhạt màu. Đến giai đoạn nặng gan, thận, tỳ tạng, lách trắng nhạt, thiếu máu, tỳ tạng thường teo rất nhỏ. Dịch xoang bụng có màu vàng rơm/vàng cam, túi mật thường sưng, màu xanh đậm. Máu cá rất nhạt, có trường hợp máu như màu kem trắng, hầu như không còn đỏ.
Về chỉ tiêu huyết học: Hồng cầu giảm cực mạnh 18.7% đối với cá bệnh nhẹ, 4.57% đối với cá bệnh nặng so với cá khỏe, đồng thời xuất hiện nhiều hồng cầu bất thường (hồng cầu non nhiều, hồng cầu mất nhân, hai nhân) điều này làm rõ thêm nguyên do cá TGTM giảm mạnh khả năng hấp thụ oxy trong nước. Ngoài ra tổng bạch cầu giảm rõ rệt khiến cá suy giảm miễn dịch, dễ nhiễm bệnh khác.
Trong điều kiện nuôi thực tế, khi xuất hiện hội chứng TGTM, mức độ hao hụt thường biến động theo xu hướng tỉ lệ thuận với lượng thức ăn được cung cấp. Việc tăng khẩu phần thường dẫn đến gia tăng tỷ lệ hao hụt, trong khi việc giảm lượng thức ăn giúp giảm rõ rệt mức hao hụt ở các ngày kế tiếp. Hiện tượng này có thể liên quan đến tình trạng suy giảm chức năng tiêu hóa do thoái hóa cơ quan nội tạng, đặc biệt ở gan và ruột kết hợp với khả năng trao đổi oxy qua mang bị hạn chế, khiến cá không đủ năng lực chuyển hóa và tiêu thụ khẩu phần bình thường. Khi tải trọng trao đổi chất vượt quá khả năng sinh lý của cá đang suy yếu, tỷ lệ hao hụt có xu hướng tăng mạnh.
2. Thời điểm xuất hiện bệnh
Bệnh thường xảy ra trên cá từ giai đoạn giống đến dưới 100gr/con. Nhiều trường hợp ghi nhận bệnh TGTM xuất hiện sau khi đàn cá vừa điều trị xong bệnh xuất huyết hoặc bệnh gan thận mủ.
Bệnh thường xuất hiện vào mùa mưa, nhất là trong các ao nuôi thâm canh. Giai đoạn này cá rất dễ bị nhiễm khuẩn và ký sinh trùng, vì vậy người nuôi thường tăng tần suất dùng kháng sinh, hóa chất xử lý môi trường kết hợp với sự biến động mạnh của thời tiết mà không có đủ thời gian để bổ sung dinh dưỡng kịp thời cho cá. Việc xử lý liên tục như vậy có thể làm cá suy yếu thêm, giảm sức đề kháng.
3. Nguyên nhân
Dù có phát hiện ký sinh trùng trên các mẫu TGTM với tỉ lệ cảm nhiễm cao sán lá mang, bào tử trùng và trùng lông, đồng thời có sự đa dạng thành phần loài ký sinh so với các khỏe. Có phân lập được Edwardsiella ictaluri ở một số mẫu TGTM với tỉ lệ nhiễm thấp, nhưng các tác nhân này được xác định chưa phải là nguyên nhân chính.
Các nghiên cứu đến thời điểm hiện tại khuyến cáo tập trung xem xét theo khía cạnh độc chất môi trường, dinh dưỡng.
4. Định hướng giảm tác động do hội chứng TGTM
Chuẩn bị tốt sức khỏe cá trước giai đoạn giao mùa bằng cách bổ sung vitamin C và nhóm B, đồng thời duy trì chất lượng môi trường bằng việc kiểm soát độc tố nền đáy thông qua bơm bùn, vi sinh và các chất hỗ trợ hấp thụ độc tố.
Xây dựng kế hoạch phục hồi nhanh cho cá sau điều trị, tập trung vào tái ổn định chức năng ruột và gan, đặc biệt sau các bệnh vi khuẩn như xuất huyết hoặc gan thận mủ.
Các lưu ý chính để kiểm soát thiệt hại khi cá bị TGTM:
- Cắt thức ăn từ 2 – 3 ngày tập trung xử lý môi trường thiên về ngoại ký sinh, hấp thụ độc tố đáy ao và vệ sinh ao nuôi
- Hạn chế tối đa việc cho ăn theo nhu cầu, trong quá trình điều trị nên cho ăn dưới 1% trọng lượng thân, kết hợp các sản phẩm vi sinh phục hồi đường ruột, bổ sung mạnh vitamin nhóm B.
- Chỉ cho ăn kháng sinh khi lượng cá hao hụt do bệnh xuất huyết, gan thận mủ nhiều hơn do TGTM.
- Sau khi cá có dấu hiệu hồi phục nên có chiến lược tăng thức ăn chậm hạn chế tăng thức ăn nhanh.
Dù nguyên nhân TGTM chưa được xác định, với những kinh nghiệm chia sẻ trong bài viết này, chúng tôi tin rằng người nuôi hoàn toàn có thể giảm thiểu thiệt hại bằng cách chủ động chuẩn bị tốt sức khỏe cá, kiểm soát độc tố đáy ao, phục hồi chức năng ruột và gan sau điều trị, đồng thời điều chỉnh khẩu phần hợp lý giúp đàn cá vượt qua TGTM hiệu quả hơn và nâng cao kết quả nuôi.
Xem thêm về thông tin dịch bệnh trên cá tra
Tài liệu tham khảo
- Từ Thanh Dung. 2010. Nghiên cứu về huyết học cá tra bệnh trắng gan trắng mang. Trường Đại học Cần Thơ. Tạp chí Khoa học 2010:15b 81-90.
- Subodh Pokhrel, Dang Thi Hoang Oanh. Investigation on common diseases of striped catfish (Pangasianodon hypophthalmus) farms in An Giang province and Can Tho City of the Mekong Delta Vietnam. Int J Fish Aquat Stud 2021;9(3):110-116.
- Xiaoli Huang, Sha Liu, Haiqi Zhang, Jiayun Yao, Yi Geng, Yangping Ou, Defang Chen, Shiyong Yang, Lizi Yin, Wei Luo. 2022. Pathological characterization and cause of a novel liver disease in largemouth bass (Micropterus salmoides). Aquaculture Reports. Volume 23.
VN-AAC-260300001
