
CÁC GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT VI BÀO TỬ TRÙNG EHP TRONG NUÔI TÔM
EHP là gì?
Vi bào tử trùng Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) là nội ký sinh bắt buộc, phát hiện gây bệnh chậm lớn trên tôm sú, tôm thẻ và tôm he Nhật bản.
Bào tử trưởng thành của EHP hình trứng (1.1 ± 0.2 µm x 0.6 ± 0.2 µm) có thể tồn tại trong môi trường nước nhiều năm, được bảo vệ bởi lớp vỏ chắc chắn (có thành phần chitin). Một khi nhiễm vào nội bào gan tụy tôm, EHP trải qua thêm 4 giai đoạn nữa để hoàn tất 1 vòng đời hoàn chỉnh (Hình 1).
Hình 1 – Vòng đời và con đừng lây nhiễm EHP trên tôm

Để lây nhiễm được vào cơ quan gan tụy tôm, EHP phải được “nảy mầm”- quá trình phóng vòi móc, giúp EHP gắn vào thụ thể trên bề mặt tế bào gan tụy, đường ruột tôm, khởi động quá trình truyền vật chất di truyền và nhân lên bên trong tế bào vật chủ (Hình 2).
Quá trình tiên quyết này được coi là “tử huyệt” của EHP, chúng ta có thể kiểm soát sự lây lan EHP bằng cách kiểm soát sự “nảy mầm” của chúng (kích hoạt hoặc ức chế quá trình này). pH> 9 dường như kích thích sự “nảy mầm” của EHP, trong khi ở điều kiện phòng thí nghiệm nồng độ chlorine 40 ppm hoặc KMnO4 15 ppm (trong 15 phút) hay cấp đông ở -200C (trong 48h), hoặc gia nhiệt 750C trong vòng 01 phút có thể bất hoạt 100% khả năng “nảy mầm” của chúng. Ở điều kiện thời gian xử lý lên đến 24h, nồng độ chlorine và KMnO4 lần lượt chỉ cần 10 ppm và 5 ppm cũng đã có thể bất hoạt 100% EHP “nảy mầm”.
Hình 2 – Hình minh họa và soi dưới kính hiển vi của EHP có “vòi đuôi” bên trong và đã “nảy mầm”

Hình 3 – Ảnh hưởng của pH lên khả năng nảy mầm của EHP

Bảng 1 – Tác nhân vật lý, hóa học bất hoạt EHP
| Tác nhân | Thời gian | Nồng độ (nhiệt độ) bất hoạt 100% |
| Chlorine 65% | 15 phút | 40 ppm |
| 24 giờ | 10 ppm | |
| KMnO4 | 15 phút | 15 ppm |
| 24h | 5 ppm | |
| Cấp đông | 24h | – 200 C |
| Gia nhiệt | 1 phút | 750C |
Khi đã nhiễm vào cơ thể tôm, EHP mất từ 12-15 ngày để hoàn tất chu trình nhân sinh khối lên 20-30 lần (từ 1 EHP nhiễm ban đầu, sau 12-15 ngày sẽ thành 20-30 tế bào). Tôm càng khỏe mạnh, càng có khả năng ức chế sự nhân lên này (giảm số lượng EHP nhân lên và/hoặc kéo dài thời gian nhân lên cần thiết của EHP). Khi EHP tích lũy trong cơ thể đến mật độ tới hạn từ 2.000 – 5.000 tế bào, tôm nhiễm bệnh sẽ biểu hiện triệu chứng ra bên ngoài bao gồm: chậm lớn, lòi xòi, vỏ ốp, xanh vỏ, dễ cảm nhiễm với các mầm bệnh khác như EMS, phân trắng, đốm trắng… Do đó, chúng ta có thể dựa vào ngày phát hiện triệu chứng đầu tiên của EHP để truy xuất nguồn nhiễm EHP vào ao nuôi (Bảng 2)
Bảng 2 – Tham khảo truy xuất nguồn nhiễm EHP từ ngày đầu tiên tôm xuất hiện triệu chứng
| Ngày nuôi phát hiện triệu chứng | Khả năng cao nguồn nhiễm EHP từ |
| 10 – 20 | Tôm bố mẹ/ nauplii nhiễm EHP |
| 15 – 30 | Trại giống nhiễm EHP |
| 35 – 60 | Quy trình chuẩn bị ao nuôi và nguồn nước ban đầu chưa loại bỏ được EHP tồn tại trong ao, nước cấp |
| 70 trở đi | Quy trình xử lý nước thay trong quá trình nuôi chưa loại bỏ được EHP trong nguồn nước |
Một vài nghiên cứu cho rằng EHP chỉ là nguyên nhân thứ cấp (kết hợp với các tác nhân khác) gây bệnh phân trắng ở tôm, tuy nhiên nhiều thông tin cũng thể hiện EHP làm trầm trọng thêm bệnh này, tôm bị bệnh phân trắng do vi khuẩn có thể điều trị khỏi khi không bị bội nhiễm EHP, nhưng nếu bị bội nhiễm cả EHP thì chưa có phương án điều trị hiệu quả với bệnh phân trắng.
CON ĐƯỜNG LÂY NHIỄM EHP
Trong ao tôm, EHP lây truyền ngang khi tôm khỏe ăn thịt hoặc/và phân nhiễm EHP từ tôm bệnh.
Xét trong cơ thể tôm, nghiên cứu cũng quan sát được rằng bào tử EHP được sản sinh, phóng thích từ tế bào gan tụy cũng có thể lây nhiễm qua tế bào gan tụy lành lặn khác của chính con tôm đó (sự tự lây nhiễm).
Mọi giai đoạn sống của tôm đều có thể bị nhiễm EHP.
Phát hiện nhiều loài động vật thân mềm, 2 mảnh vỏ có chứa bào tử EHP trong cơ thể, tuy nhiên việc xác định vai trò của chúng thật sự là vật chủ trung gian hay chỉ là vật mang EHP vẫn còn đang được tiến hành.
Việc lây nhiễm chiều dọc từ tôm bố mẹ sang tôm giống cũng đã được quan sát, tuy nhiên việc lây nhiễm này được cho là do bị nhiễm từ phân tôm bố mẹ chứa bào tử EHP rồi bám dính vào trứng, nauplii…gây nhiễm cho bể nở, bể ương hơn là truyền trực tiếp từ tôm mẹ qua ống dẫn trứng.
CÁC GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT EHP
Ngăn ngừa
- Kiểm soát chất lượng tôm giống đầu vào, từ nhà cung cấp giống uy tín, có xác nhận không nhiễm EHP
- Vệ sinh ao, bạt loại bỏ bào tử EHP từ các vụ trước. Dùng dung dịch VirkonTM A 1% phun xịt lên các bề mặt bạt, dung cụ đã làm sạch để tiêu diệt EHP còn sót trên các bề mặt bạt, dụng cụ.
- Xử lý nước đầu vào thật kỹ, có biện pháp loại bỏ động vật thân mềm, 2 mảnh vỏ. Dù chúng thật sự đóng vai trò là vật chủ trung gian hay chỉ là vật mang thì chúng luôn có khả năng mang mầm bệnh EHP vào ao nuôi nên cần thiết phải có bước xử lý triệt để. Bên cạnh quy trình xử lý nước truyền thống, khuyến cáo sử dụng thêm AquabossoTM Molu (ở ao xử lý) để loại bỏ nhóm động thân mềm, 2 mảnh vỏ, ngăn ngừa chúng mang EHP vào ao nuôi.
- Chỉ sử dụng nước tầng mặt, hạn chế lấy nước từ khu vực đáy (ao xử lý, ao sẵn sàng) cấp vào ao nuôi (nên bỏ lại 10-20 cm nước đáy nơi nguy cơ mật độ EHP cao)
Giảm thiểu
Tăng cường sức khỏe tôm nuôi, tôm khỏe mạnh có khả năng ức chế, kiểm soát EHP nhân lên trong cơ thể.
Kiểm soát pH môi trường, đảm bảo pH luôn ổn định thấp (7.5 – 7.9) bằng quy trình vi sinh với Proquatic® PondPlus® và Proquatic® PondDtox® , tránh lạm dụng vôi trong quá trình nuôi.
Kiểm soát pH đường ruột luôn ở mức thấp bằng bổ sung Megabic®, ức chế sự “nảy mầm” của EHP, từ đó giảm thiểu sự lây lan trong ao.
Nuôi nhiều giai đoạn, mật độ thả vừa nhằm giảm áp lực chất thải, giảm mức độ lây nhiễm EHP trong ao. Có biện pháp định loại bỏ tôm bệnh, tôm còi ra khỏi ao.
Tăng cường xi phông, thay nước, giảm hữu cơ lơ lửng.
Chiến lược bù đắp cho tôm khi dinh dưỡng, năng lượng cần thiết cho sự sinh trưởng phát triển bị EHP lấy đi. Bổ sung hàng ngày Growmix® Shrimp, Coforta® A.
CN-CFA-250700001
BỘ PHẬN THỦY SẢN MSD ANIMAL HEALTH
