
CÁC BỆNH THƯỜNG GẶP TRONG THÁNG ƯƠNG ĐẦU TIÊN
Trong quá trình ương cá tra từ bột lên giống, người nuôi thường gặp nhiều vấn đề khiến tỷ lệ sống trong tháng nuôi đầu thường rất thấp, ảnh hưởng đến hiệu quả cả vụ ương. Thời tiết biến đổi liên tục trong mùa nước đổ càng làm rõ thêm thiệt hại cho vụ ương.
Để giúp người nuôi hệ thống lại và hiểu rõ các vấn đề thường gặp trong tháng ương đầu cá tra giống, chúng tôi xin chia sẻ đến quý bà con và bạn đọc những vấn đề phổ biến, nguyên nhân và một số giải pháp mà bộ phận kỹ thuật cá MSD đã tìm hiểu, ứng dụng và khuyến cáo trong nhiều năm qua.
Các vấn đề thường gặp trong quá trình ương và nguyên nhân
- Cá bột hao cấp tính trong 1–3 ngày đầu sau khi thả
- Chất lượng cá bột kém do cá bố mẹ sinh sản quá nhiều đợt trong năm mà không được nuôi vỗ kỹ trước và sau khi sinh sản.
- Mưa sau khi thả bột làm pH và oxy hòa tan trong nước giảm, làm tăng độc tính của các khí độc trong ao, đặc biệt là H2S.
- Ngoài ra, còn có thể do khí độc NH3, NO2, H2S (bùn đen) ở tầng đáy ao chưa được xử lý triệt để khi cải tạo ao hoặc trong quá trình nuôi.
2. Cá bắt mồi kém và xuất hiện đuôi én từ 7–9 ngày sau khi thả
- Thiếu thức ăn tự nhiên (tảo, luân trùng, trứng nước) ở các ao mới, hoặc mất cân bằng về thành phần loài ở ao nuôi lâu năm do sử dụng hóa chất liên tục, khiến ao mất cân bằng khoáng và dinh dưỡng, ảnh hưởng đến nguồn thức ăn tự nhiên.
- Tốc độ phát triển của cá trong tuần đầu rất nhanh (khoảng gấp 10 lần so với lúc thả), kết hợp mật độ thả cao (trên 1.000 bột/m2) làm tăng nhu cầu khoáng; ngoài nguồn khoáng từ thức ăn cần bổ sung khoáng cho môi trường nước

Hình 1: Luân trùng (trứng nước non)

Hình 2: Monia (Trứng nước)
3. Bệnh ký sinh trùng xuất hiện từ 10 – 15 ngày sau khi thả
- Trùng bánh xe, trùng quả dưa, sán lá xuất hiện do thay nước trực tiếp không qua hệ thống xử lý, hoặc do xử lý ao cũ không triệt để.
- Khi điều kiện môi trường trong khoảng tối ưu, ký sinh ít ảnh hưởng, nhưng nếu môi trường ao biến đổi xấu hoặc cá bị sốc do thời tiết, cá dễ mẫn cảm với mầm bệnh.
Ký sinh trùng tạo vết thương hở, phá hủy lớp nhớt và mô bảo vệ, tạo điều kiện cho vi khuẩn cơ hội tấn công.

Hình 3: cá gom cục do nấm, ký sinh trùng

Hình 4: Trùng bánh xe
4. Bệnh trắng mình, thối đuôi, xuất huyết và gan thận mủ xuất hiện từ ngày 16–30 sau khi thả
Thường xuất hiện sau bệnh ký sinh, khi bội nhiễm ký sinh trùng với vi khuẩn khiến bệnh trở nên nghiêm trọng.
Gây thiệt hại lớn khi chất lượng nước kém (lơ lửng hữu cơ cao, oxy hòa tan thấp), hoặc khi nhiệt độ biến động mạnh trong mùa mưa, thời điểm giao mùa.


Hình 5: Cá hao hụt do trắng mình, thối đuôi.
Các giải pháp chính của MSD AH cho thời điểm then chốt giúp giữ đầu con
- Chọn cá bột ở cơ sở uy tín, thả mật độ 600–800 cá bột/m2.
- Vệ sinh ao ương kỹ lưỡng: bơm bùn, phơi đáy, rào lưới xung quanh để giảm địch hại.
- Sử dụng Proquatic® PondDtox® và Proquatic® AQ Fresh tạo quần thể vi sinh vật hữu ích ngay từ lúc chuẩn bị nước ao để kiểm soát khí độc (đặc biệt H2S) và lơ lửng hữu cơ, hạn chế tối đa thay nước trong tháng đầu, chỉ thay khi có ao lắng.
- Gây thức ăn tự nhiên, đồng thời bổ sung khoáng bằng Supastock® 1 ngày trước khi thả bột đối với ao cũ, 2 ngày đối với ao mới, nhằm chuẩn bị “trứng nước non” cho cá.
- Sử dụng Fetant™ CIS/ Fetant™ Gluben diệt khuẩn định kỳ 5 – 7 ngày/lần để kiểm soát lượng vi khuẩn gây hại trong ao; cấy lại vi sinh 12 – 24 giờ sau khi diệt khuẩn.
- Xổ ký sinh trùng sớm với Hadaclean® A + BayMet® (từ ngày 10 – 15) để giảm thiệt hại khi xảy ra bội nhiễm vi khuẩn.
- Kiểm tra ký sinh trùng hàng tuần để có giải pháp xử lý kịp thời, tránh bùng phát dịch bệnh khi bội nhiễm vi khuẩn.
VN-HADA-251000004
Tài liệu tham khảo
- Boyd C. 2014. Hydrogen sulfide toxic, but manageable. Global Aquaculture Advocate 34
- Hoa AV. 2018. Gây nuôi thức ăn tự nhiên trong ao ương cá tra. TCKH CTU 153
- Quy trình ương năng cao tỉ lệ sống cá giống của MSD AH. 2025
